|
|
Chúa Nhật |
|
CÁC CON BẢO THẦY LÀ AI?
Trước khi trở lại đạo, Genesius, vị thánh quan thầy của giới tài tử sân khấu, lại có nhiều ác cảm với đạo. Là kịch sĩ nổi tiếng thời Diocletianus, vị hoàng đế Rôma bắt đạo, mà lại rất ghét đạo nên anh định viết một vở hài kịch chế diễu các nghi lễ Kitô giáo. Để viết kịch, anh phải giả làm dự tòng đến một giáo đoàn ở Rôma để xin học đạo. Sau khi biết đủ cho dự tính đó, anh trở về viết một vở kịch chế diễu phép rửa tội.
Nhưng khi tập kịch, khi nói với các diễn viên về phép rửa, Genesius lại thấy tin và ước ao chịu phép rửa. Lòng ước ao đó cứ lớn dần lên trong anh, cho đến hôm lần đầu diễn vở kịch cho hoàng đế và quần thần xem, thì Thánh Thần tác động lên anh, anh không đóng kịch nữa mà kêu lên từ đáy lòng : “Hỡi các bạn hề của tôi, tôi ao ước được trở nên một Kitô hữu.”
Các bạn diễn hỏi tại sao thì anh nói : “Suốt đời tôi chỉ là phù du, nay tôi đã tìm thấy Thiên Chúa.” Mọi người, kể cả hoàng đế rũ ra mà cười, nghĩ rằng Genesius nhập vai rất hay. Hai kịch sĩ bước vào, một đóng vai linh mục, một phù thủy. Khi họ hỏi anh muốn gì, anh lập lại ước muốn được rửa tội. Hai kịch sĩ đó rửa tội cho anh đúng như anh chỉ cho họ.
Rồi Genesius nói với hoàng đế, binh lính và dân chúng : “Tôi viết và đóng kịch để chế diễu (…) nhưng nay tôi đã tin và khi tôi nói những lời này, tôi thấy thiên thần của Chúa ở quanh tôi. Các thiên thần cho tôi biết nước rửa tội đã rửa tôi sạch hết mọi tội lỗi cũng như các sự dữ tôi đã làm. (…) Hỡi hoàng đế, hãy tin vào những mầu nhiệm này! Tôi sẽ dạy cho ngài và ngài sẽ biết Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật.”
Lời Genesius làm đám đông nhốn nháo cả lên, hoàng đế cho trói anh lại mà đánh đòn và xẻo thịt anh. Trong cơn đau đớn, anh vẫn tuyên xưng Giêsu là Thiên Chúa. Khi hoàng đế ra lệnh chém đầu, anh kêu to : “Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa và chúng ta sẽ có sự sống nhờ danh Ngài.”
Sự sống đời đời là ước vọng từ đáy lòng nhân loại, nhưng ai sẽ mang sự sống đó đến cho người ta nếu không phải là Thiên Chúa – là chính sự sống? Bởi đó ơn cứu độ chỉ có thể được tìm thấy nơi Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. “Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ." (Cv 4,12)
Như vậy, biết Chúa Giêsu là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống không phải là cái biết của trí thức, mà là cái biết của niềm tin, cái biết của ơn cứu độ. Cái biết đó trước hết là một ân sủng, như Chúa Giêsu xác định với Phêrô : “chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.” Là điểm bắt đầu cho sự sống đời đời, cái biết đó làm cho người ta được hoà hợp nên một với Thiên Chúa trong những chọn lựa của mình : “Thầy sẽ trao cho con chìa khoá Nước Trời. Sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc, sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở.” (Mt 16,17.19)
Là ân sủng của Thiên Chúa, nhưng cái biết đó cũng là sự chọn lựa với cả cuộc đời của con người, như Chúa Giêsu đã nói với Phêrô, sau khi trao sứ mệnh cho ông : “Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn." Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông: "Hãy theo Thầy." (Ga 21,18-19)
Cũng vậy, trên đường Damas, thánh Phaolô đã được tiếng từ trời tỏ cho biết Chúa Giêsu và ngài cũng dành cả cuộc đời để sống cái biết đó, như ngài tâm sự với Timôthêô : “Còn tôi, tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin.” (2Tm 4,6-7)
Biết Chúa Giêsu là ai là một cái biết đến từ trời để lôi kéo con người vươn lên khỏi chính mình mà hoà hợp nên một với Thiên Chúa trong tình yêu cứu độ : “Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng. Không kể các điều khác, còn có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh! Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối? Có ai vấp ngã mà tôi lại không cảm thấy lòng sôi lên?” (2Cr 11,27-29)
Cái biết đó làm cho đời phàm hèn nên một với Thiên Chúa : “Nếu phải tự hào, thì tôi sẽ tự hào về những yếu đuối của tôi.” (2Cr 11,30)!
Biết Chúa, mọi suy tính của người tin phụ thuộc hoàn toàn nơi Chúa, nguồn mạch của sự sống : “Con ơi! Hãy cứ để Cha định đoạt về con mặc ý Cha. Cha biết tỏ cái gì hợp cho con.” (Imit. III. 27)
Biết Chúa, dù trải qua bao gian lao trong một trận chiến không cân sức, hai vị tông đồ không hề sờn lòng mà vững tin vào chiến thắng sau cùng của người tìm Chúa : “Tôi đã tìm kiếm Chúa, và Người đáp lại, giải thoát cho khỏi mọi nỗi kinh hoàng. Ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở, không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi.” (Tv 33,5-6)
Tại sao tôi còn sợ hãi? Có phải tôi đang tìm Chúa không?
Lm. HK