|
|
Chúa Nhật
2 Năm A |
|
TIN CHÚA PHỤC SINH (Ga 20,19-31)
Tại một vùng kia của nước Pháp, dân chúng ở đây có tập tục, vào sáng sớm ngày Chúa nhật Phục sinh, khi những hồi chuông đầu tiên của nhà thờ nổi lên, tất cả dân chúng trong làng đều chỗi dậy chạy ra giếng của làng để rửa mắt với giòng nước mát lạnh. Cũng như những tập tục khác, nhiều người không hiểu tại sao lại chạy ra giếng để rửa mắt như vậy, trong khi gia đình nào cũng có các vòi nước trong nhà.
Những người biết chuyện hơn đã giải thích rằng: khởi thủy, hành động này là một hình thức cầu nguyện bằng tác động, qua đó dân làng cầu xin Thiên Chúa ban cho họ đôi mắt đức tin mới, mà họ gọi là đôi mắ phục sinh để thấy rõ hơn và kinh nghiệm sâu xa hơn rằng: biến cố phục sinh đã thay đổi cuộc sống của họ, nhất là qua đó họ bày tỏ ước vọng được thấy Chúa Giê-su, Đấng không còn chết nữa, nhưng đang hiện diện sống động giữa họ.
Qua các câu truyện được thuật lại xung quanh biến cố Chúa Giê-su phục sinh, chúng ta biết được các tông đồ là những nhân chứng mắt thấy tai nghe, và cả kinh nghiệm của ông Tô-ma, là người chủ trương thấy trước, sờ trước rồi mới tin. Chúa Giê-su phục sinh đã chiều lòng ông Tô-ma, Ngài đã cho ông thấy để mời gọi ông tin, nhưng Ngài cũng cầu chúc: "Phúc cho những người không thấy mà tin". Theo lý luận thường tình, có thấy mới có tin. Vì thế, trong đời sống hằng ngày, chúng ta thường nghe người khác nói hay chính chúng ta cũng hay nói như tông đồ Tô-ma rằng: "Nếu tôi không thấy thì tôi không tin", hoặc "Tôi thấy tôi mới tin", nghĩa là chúng ta đều có xu hướng chỉ tin cái gì mắt mình trông thấy hay trí mình hiểu được. Nhưng chúng ta không để ý, không biết hay không ngờ rằng câu nói của chúng ta, điều đòi hỏi hay yêu cầu của chúng ta là mâu thuẫn và vô nghĩa. Bởi vì bản chất của việc tin là không thấy. Nếu thấy rồi thì không phải là tin nữa. Bởi vì tin là chấp nhận một quả quyết của người khác là đúng sự thật mà mình không thấy, không chứng kiến. Nói rõ hơn: tin là chấp nhận một điều gì chúng ta không thấy. Không thấy nhưng chúng ta vẫn chấp nhận vì điều đó hợp lý, hợp tình, dựa vào một thế giá nào đó, như sách vở, nhân chứng, sự kiện v.v...
Chẳng hạn: chúng ta không thấy Chúa, nhưng chúng ta tin có Ngài. Chúng ta không thấy linh hồn, nhưng chúng ta tin chắc có điều đó. Chúng ta không thấy thiên đàng, hỏa ngục, nhưng chúng ta tin vì đó là sự công bằng hợp lý: thưởng lành phạt dữ. Bình thường trong cuộc sống có rất nhiều điều đòi hỏi chúng ta phải tin mà chúng ta không thấy. Chẳng hạn: chúng ta có ai thấy vua Quang Trung không? Chúng ta có thấy ông cụ ông kỵ tổ tiên của mình không? Chúng ta có thấy tình yêu của người khác không? Thế mà chúng ta vẫn tin mà không thắc mắc gì cả. Bởi vì có sách vở ghi lại, có người khác kể lại hay có dấu hiệu bên ngoài làm chứng. Thế thì niềm tin trong đạo của chúng ta cũng thế. Có những mầu nhiệm vượt quá sự hiểu biết của chúng ta nhưng chúng ta vẫn tin, vì có Sách Thánh ghi lại, có Giáo Hội tông truyền thuật lại có bằng chứng của biết bao người đã sống trước chúng ta hoặc đang sống với chúng ta.
Sự kiện ông Tô-ma đòi chính mình phải kiểm chứng Chúa Giê-su phục sinh thì ông mới tin. Điều đó cũng bình thường thôi, ông có đủ lý do chính đáng để nghi ngờ và đòi hỏi như vậy, vì ông chưa được thấy Chúa sống lại hiện ra rõ ràng như các môn đệ khác. Chúng ta cám ơn ông, vì việc ông đòi hỏi có lợi cho chúng ta, vì là dịp khiến Chúa Giê-su liên tưởng đến đông đảo những Ki-tô hữu, từ đó cho đến ngày cánh chung sẽ tin vào Ngài. Chúa chúc phúc cho họ, vì họ là những người, dù không thấy tận mắt biến cố Chúa phục sinh, nhưng vẫn tin vào Ngài. Nói khác đi, từ sau thánh Tô-ma sấp lên, việc sờ mó vào thân xác Chúa Giê-su phục sinh như Tô-ma sẽ không bao giờ được nữa. Từ đó người ta tin vào Chúa qua thế giá của Kinh Thánh, của Giáo Hội, của các bậc tiền nhân. Ai tin qua đó là có phúc, như Chúa đã nói: "Phúc cho những người không thấy mà tin".
Như vậy, đối với biến cố phục sinh của Chúa Giê-su, chúng ta có thể nói rằng: "có tin mới có thấy", nghĩa là những người tin mới được thấy: thấy là thấy với đôi mắt đức tin. Với đôi mắt đức tin, chúng ta có thể kinh nghiệm được Chúa Giê-su phục sinh hiện diện và sống động giữa chúng ta. Thực vậy, chúng ta không thấy Chúa sống lại, nhưng chúng ta tin, vì Kinh Thánh đã nói về việc Ngài phục sinh, lòng tin của Giáo Hội hai mươi thế kỷ qua: chúng ta tôn thờ Đấng bị đóng đinh trên thập giá, chúng ta tôn thờ Đấng ngự trong nhà chầu... là chúng ta tin Chúa Giê-su đang sống, chứ không phải tôn thờ Ngài đã chết, không còn liên hệ gì đến chúng ta. Không, chúng ta tin Chúa đang sống, Ngài đang điều hành vũ trụ này, Ngài có mặt khắp nơi, Ngài đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường, ngõ ngách đâu đâu cũng có Ngài, Ngài là Thiên Chúa toàn năng và hằng hữu.
Sự kiện Chúa Giê-su phục sinh là một trong những chân lý đức tin, một mầu nhiệm. Đây là chân lý nền tảng cho cuộc sống đức tin và niềm hi vọng của chúng ta. Chân lý đức tin này giúp cho chúng ta có cái thìn mới về Thiên Chúa, về chính mình, về cuộc đời, về sự sống, sự chết, đời này, đời sau, về lịch sử, về những biến cố thăng trầm... những cái nhìn mới ấy không sách vở nào ban cho chúng ta được, mà chính mỗi người chúng ta phải cảm nghiệm để hướng dẫn và giúp chúng ta sống mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Như vậy cũng có nghĩa là chúng ta đừng bao giờ hài lòng với một đức tin lý thuyết và hình thức, nhưng phải sống với một đức tin chân thực và thân ái. Nói rõ hơn, chính cách sống tốt đẹp của chúng ta, như thực hành các việc đạo đức cho nghiêm chỉnh, như sống hài hoà, công bình và yêu thương với mọi người... sống như vậy là chúng ta đang thể hiện niềm tin vào Chúa Giê-su phục sinh và sự phục sinh của chính mình.
Nguyện xin Chúa Tình Thương ban muôn ơn lành xuống trên quý ông bà và anh chị em.
LM. Grêgôriô Trần Vi, CMC